10 bức tranh ấn tượng nhất của danh họa Piet Mondrian

Bức tranh Composition III của Piet Mondrian lên sàn đấu giá Christie's tại London ngày 14/10, gia nhập bộ sưu tập các bức tranh nổi tiếng nhất của danh họa này

Bức tranh Composition III của Piet Mondrian. Ảnh: CHRISTIE’S IMAGES LTD. 2026

Sau hơn một thế kỷ lưu chuyển qua những bộ sưu tập tư nhân quan trọng, Composition III của Piet Mondrian nay mới được đưa lên sàn đấu giá.

Tác phẩm từng hiện diện trong bộ sưu tập của kiến trúc sư Armand P. Bartos, một tên tuổi lớn của kiến trúc hiện đại, và phu nhân Celeste. Mondrian hoàn thành bức tranh vào năm 1920, khi hệ thống tạo hình đặc trưng của ông bắt đầu định hình qua những đường thẳng, mảng màu và cấu trúc hình học được tiết chế đến mức căn bản. Đây cũng là một sáng tác hiếm hoi thuộc nhóm tám bức tranh đánh dấu bước chuyển quyết định trong sự nghiệp của đại danh họa.

Nhân dịp bức tranh này của Piet Mondrian lên sàn đấu giá, hãy cùng nhìn lại 10 bức tranh tiêu biểu trong sự nghiệp của ông, được lựa chọn dựa trên vai trò của từng tác phẩm trong tiến trình phát triển tư duy nghệ thuật và dấu ấn đối với lịch sử thị giác.

10 bức tranh ấn tượng nhất của Piet Mondrian

1. Avond (Evening): The Red Tree (1908-1910)

Ảnh: Kunstmuseum Den Haag

Theo Kunstmuseum Den Haag, chuyến đi Domburg năm 1908 mở ra một chuyển biến quan trọng trong hội họa Mondrian. Tại Villa Loverendale, nơi gắn với nhà sưu tập Marie Tak van Poortvliet và họa sĩ Jacoba van Heemskerck, ông được cho là đã phác họa cây táo cổ thụ trong khu vườn để phát triển thành Avond (Evening): The Red Tree. Tác phẩm được hoàn thiện dần trong khoảng 1908–1910.

Với thân cây đỏ rực nổi bật trên nền xanh cobalt, bức tranh cho thấy Mondrian đang rời xa lối tái hiện thiên nhiên để tìm kiếm một ngôn ngữ giàu tính biểu đạt. Dấu ấn của Vincent van Gogh (1853-1890) hiện diện trong cường độ màu sắc và cách hình tượng được tách khỏi cảnh quan. Ánh sáng vẫn là mối quan tâm lớn, song ở đây, nó đã trở thành phương tiện giúp Mondrian tiến gần hơn đến tư duy trừu tượng.

2. The Grey Tree (1911)

Ảnh: Kunstmuseum Den Haag

Theo Kunstmuseum Den Haag, năm 1911, dù đã có vị thế vững chắc trong hội họa phong cảnh Hà Lan, Piet Mondrian vẫn quyết định rời bỏ cuộc sống cũ, chấm dứt hôn ước và chuẩn bị sang Paris ở tuổi gần 40. The Grey Tree được sáng tác giữa thời điểm nhiều biến động ấy, ghi lại bước ngoặt trong tư duy nghệ thuật của ông.

Khác với bảng màu rực rỡ của Evolution, bức tranh này của Piet Mondrian gần như chỉ còn đen, trắng và xám. Hình ảnh thân cây được lược giản thành một cấu trúc đường nét, cho thấy Mondrian bắt đầu tiếp nhận tinh thần Lập thể. Cuối năm đó, triển lãm tại Stedelijk Museum mà ông tham gia tổ chức đã đưa tác phẩm của Pablo Picasso và Georges Braque đến gần công chúng Amsterdam, ngay trước khi Mondrian chính thức bước vào đời sống nghệ thuật Paris.

3. Pier and Ocean 5 (Sea and Starry Sky) (1915)

Ảnh: moma.org

Theo MoMA, dù mang nhan đề gợi cảnh vật, Pier and Ocean gần như đã vượt khỏi hội họa mô tả. Sau thời gian tiếp xúc với Lập thể tại Paris, Mondrian tiếp tục loại bỏ màu sắc, chiều sâu và những dấu hiệu nhận diện của thiên nhiên để tìm đến một cấu trúc thị giác tinh khiết hơn.

Trong loạt tranh thực hiện từ năm 1914 đến 1915, cảnh biển được chuyển thành những nét ngang, dọc ngắn, tập hợp trong đường viền oval. Nhịp điệu ấy vừa gợi ánh sáng và mặt nước, vừa thể hiện quan niệm của Mondrian về sự cân bằng giữa các lực đối lập: tinh thần và vật chất, nam tính và nữ tính. Thiên nhiên vì thế không còn được tái hiện bằng hình dáng, mà được cô đọng thành một trật tự trừu tượng.

4. Composition with Color Planes 5 (1917)

Ảnh: moma.org

Bức tranh Composition with Color Planes 5 là tác phẩm sơn dầu trên toan được Piet Mondrian sáng tác năm 1917, có kích thước 49 × 61,2 cm. Tác phẩm thuộc The Sidney and Harriet Janis Collection và do Khoa Hội họa và Điêu khắc của Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại New York (MoMA) quản lý.

5. Composition C (1920)

Ảnh: moma.org

Composition C là tác phẩm sơn dầu trên toan được Piet Mondrian sáng tác năm 1920, có kích thước 60,3 × 61 cm. Tác phẩm được Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại New York (MoMA) tiếp nhận thông qua Quỹ Di tặng Lillie P. Bliss theo hình thức trao đổi và hiện thuộc sự quản lý của Khoa Hội họa và Điêu khắc.

6. Composition with Red, Blue, Black, Yellow, and Gray (1921)

Ảnh: moma.org

Được Mondrian hoàn thành năm 1921, Composition with Red, Blue, Black, Yellow, and Gray hiện thuộc bộ sưu tập Hội họa và Điêu khắc của MoMA, từ quà tặng của John L. Senior, Jr. Tác phẩm cô đọng ngôn ngữ Tân tạo hình qua những đường vuông góc và các mảng màu cơ bản.

Tinh thần ấy bước vào thời trang năm 1965, theo The Met, sau khi Yves Saint Laurent đọc chuyên khảo Piet Mondrian: Life and Work của Michel Seuphor. Ông phát triển 26 thiết kế dựa trên mỹ học Mondrian, nổi bật với những chiếc đầm cocktail ghép từ các mảng vải hình học. Đường may và kỹ thuật dựng phom được tính toán để bố cục vẫn liền mạch khi ôm theo cơ thể. Thành công của bộ sưu tập Thu-Đông 1965 đã mở đầu cho chuỗi sáng tạo lấy cảm hứng từ hội họa trong sự nghiệp Saint Laurent.

7. Tableau No. IV; Lozenge Composition with Red, Gray, Blue, Yellow, and Black (1924-1925)

Ảnh: nga.gov

Theo National Gallery of Art, Mondrian xoay khung toan thành hình thoi. Trên bề mặt ấy, những đường đen ngang và dọc giao nhau theo nhịp điệu bất quy tắc, chia không gian thành các ô vuông, hình chữ nhật có kích thước khác nhau. Độ dày của đường kẻ cũng được điều chỉnh tinh tế, khiến hệ lưới tránh được cảm giác cứng nhắc. Nằm tại trung tâm là một ô vuông trắng hoàn chỉnh, trong khi các mảng xung quanh bị cạnh tranh cắt ngang, chỉ để lộ từng phần. Những sắc trắng tưởng chừng đồng nhất thực tế lại phảng phất ánh xám hoặc xanh nhạt, tạo nên chiều sâu kín đáo.

Khi gặp đường viền chéo của khung toan, hệ lưới hình thành nhiều mảng tam giác. Mondrian điểm vào đó bốn màu nổi bật: đỏ ở khu vực phía trên bên trái, vàng gần cạnh dưới, đen tại đáy tranh và xanh cobalt sát đỉnh bên phải. Các điểm màu được đặt cách xa nhau, tạo thế cân bằng bất đối xứng trên toàn bộ bố cục. Chữ ký viết tắt “PM” xuất hiện ở phần dưới, hòa vào cấu trúc hình học của tác phẩm.

8. New York City (1942)

Ảnh: Centre Pompidou

Khi đến New York năm 1940, Mondrian nhanh chóng bị cuốn hút bởi cấu trúc đô thị dạng bàn cờ, kiến trúc cao tầng và tiết tấu sôi động của thành phố. Những ấn tượng ấy được chuyển hóa vào loạt bốn tác phẩm New York City, thực hiện trong khoảng 1941-1942. Hai phiên bản hiện thuộc Kunstsammlung Düsseldorf và SFMOMA vẫn còn các dải giấy màu dùng để thử nghiệm bố cục nên được xem là chưa hoàn tất. Trong hai bức được vẽ bằng sơn dầu, New York City 3 hiện được lưu giữ tại Museo Thyssen-Bornemisza, còn phiên bản của Centre Pompidou là tác phẩm duy nhất trong loạt tranh được công nhận đã hoàn chỉnh.

Ở New York City, Mondrian thay những đường viền đen quen thuộc bằng 15 dải vàng, bốn dải đỏ và bốn dải xanh lam. Chúng chạy ngang, dọc rồi chồng lên nhau, tái hiện nhịp điệu của mạng lưới đường phố mà không mô tả trực tiếp cảnh quan. Các dải màu có bề rộng tương đối đồng nhất, qua đó duy trì cảm giác phẳng của mặt toan. Sự thay đổi tại từng điểm giao cắt khiến bố cục liên tục chuyển động, đồng thời thể hiện nguyên tắc cốt lõi của Tân tạo hình: tìm kiếm cân bằng qua mối quan hệ giữa lặp lại và biến đổi.

9. Broadway Boogie Woogie (1942-1943)

Ảnh: moma.org

Theo MoMA, Mondrian đến Mỹ để tránh chiến tranh thế giới thứ hai và nhanh chóng tìm thấy nguồn cảm hứng mới trong đời sống New York. Ngay tối đầu tiên tại thành phố, ông được giới thiệu với boogie-woogie. Nhịp điệu sôi nổi của dòng nhạc này sớm thâm nhập vào hội họa, đúng như lời ông từng nói về việc đưa “một chút boogie-woogie” vào tranh.

Sự chuyển biến ấy hiện rõ trong Broadway Boogie Woogie. Mondrian vẫn duy trì cấu trúc ngang-dọc và ba màu cơ bản của Tân tạo hình, nhưng loại bỏ hoàn toàn những đường đen từng thống trị các sáng tác trước. Hệ lưới liền mạch được phân tách thành hàng loạt ô màu nhỏ, nối tiếp và đan xen với các khoảng trắng, xám. Những điểm màu vàng, đỏ và xanh lam tạo nên cảm giác chớp sáng, dẫn mắt người xem di chuyển liên tục qua bề mặt toan. Nhịp điệu thị giác ấy gợi liên tưởng đến ánh đèn, dòng xe và đường phố, đồng thời vang lên như tiết tấu của boogie-woogie. Dù tràn đầy chuyển động, toàn bộ bố cục vẫn được Mondrian kiểm soát chính xác để giữ thế cân bằng.

10. Victory Boogie Woogie (1942-1944)

Ảnh: Kunstmuseum Den Haag

Mondrian bắt đầu Victory Boogie Woogie vào tháng 6 năm 1942, giữa thời điểm chiến tranh bao phủ. Niềm tin vào một kết cục tươi sáng được ông gửi gắm trong khung toan hình thoi rực rỡ, nơi những đường đen đặc trưng đã hoàn toàn biến mất. Suốt năm tiếp theo, họa sĩ liên tục sửa đổi tác phẩm và tạm gọi nó bằng nhiều cái tên như Victory-painting, Boogie Woogie painting hay Diamond. Với bố cục cởi mở và bất đối xứng, Mondrian chủ động rời xa trạng thái cân bằng nghiêm ngặt trong những sáng tác trước. Các mảng màu và nhịp điệu đứt đoạn gợi nên diện mạo New York qua hàng loạt lực tương phản: trật tự giữa hỗn loạn, ánh sáng bên bóng tối, sự tĩnh lặng trong chuyển động. Tác phẩm cuối đời vì thế trở thành kết tinh cho nỗ lực tìm kiếm một cấu trúc luôn biến đổi nhưng vẫn thống nhất của ông.

Piet Mondrian nhiều lần cho rằng bức tranh sắp hoàn tất, rồi lại thay đổi gần như toàn bộ. Chỉ có một chi tiết nhỏ được ông đặt vào tranh ngay từ đầu rồi giữ nguyên cho đến cuối cùng: ô vuông màu xanh lam nằm bên phải, hơi lệch khỏi tâm tranh. Khi ông nhập viện ngày 26 tháng 1 năm 1944, tác phẩm vẫn nằm dang dở trong xưởng. Sau khi họa sĩ qua đời ngày 1 tháng 2, bức tranh được Francis Valentine Dudensing bán cho nhà sưu tập Emily Tremaine (một trong những nhà sưu tập tư nhân quan trọng nhất tại Hoa Kỳ vào thời điểm bấy giờ) dưới tên Victory Boogie Woogie. Năm 1998, nhờ khoản tài trợ của De Nederlandsche Bank, Victory Boogie Woogie được Stichting Nationaal Fonds Kunstbezit mua lại và trao tặng cho Nhà nước Hà Lan. Kể từ đó, bức tranh được cho Kunstmuseum Den Haag mượn dài hạn và trở thành viên ngọc quý của bộ sưu tập tác phẩm Mondrian lớn nhất thế giới.

>>> ĐỌC TIẾP: 10 ĐIỀU BẠN CHƯA BIẾT VỀ DANH HỌA PIET MONDRIAN

Harper’s Bazaar Việt Nam

Xem thêm