Phái Sinh và câu hỏi về tính nguyên bản trong nghệ thuật

Tranh cãi giữa êkíp Sơn Tùng M-TP và nghệ sĩ Lê Giang làm dấy lên thảo luận về sự minh bạch trong hành vi tham chiếu, khai thác là một ví dụ tiêu biểu giải thích về thực hành phái sinh chuẩn chỉ.

Sự tương đồng giữa bối cảnh MV của Sơn Tùng M-TP và tác phẩm Tàn Chỉ của nghệ sĩ Lê Giang

Khi Sơn Tùng M-TP phát hành MV Come My Way, MV mau chóng vướng vào tranh cãi khi nghệ sĩ thị giác Lê Giang lên tiếng cho rằng một phân cảnh trong MV có sự tương đồng với tác phẩm Tàn Chỉ, dự án nghệ thuật do cô thực hiện, và được sử dụng khi chưa có sự đồng thuận từ tác giả. Hiện, phân cảnh gây tranh cãi đã được gỡ khỏi phiên bản MV đang phát hành trên YouTube.

Vượt ra ngoài phạm vi của một sự việc cụ thể, câu chuyện cũng gợi mở những thảo luận rộng hơn về cách người làm sáng tạo tiếp cận các chất liệu văn hóa, nghệ thuật, và cách đưa chúng vào các sản phẩm đại chúng sao cho hợp lý.

Tính nguyên bản trong nghệ thuật và định nghĩa nghệ thuật phái sinh

Tác phẩm Tàn Chỉ của nghệ sĩ thị giác Lê Giang. Nguồn ảnh: Nghệ sĩ Lê Giang.

Một trong số những tranh cãi lớn đến từ cách định nghĩa thế nào là sáng tạo nguyên bản, và thế nào là sự ăn theo, nhái theo, hay sao chép. Nhiều người cho rằng bối cảnh trong MV của Sơn Tùng M-TP được truyền cảm hứng từ đình đền cổ của Việt Nam, chỉ đơn thuần là tái hiện kiến trúc xưa đã có sẵn. Họ cho rằng nghệ sĩ Lê Giang cũng chỉ đang đơn giản là sao chép lại những công trình từ đời cha ông còn sót lại.

Tuy nhiên, trong nghệ thuật thực chất có khái niệm phái sinh. Đó là khi một tác phẩm, dựa trên một tác phẩm gốc khác, chứa đựng yếu tố sáng tạo độc lập và mang lại góc nhìn mới cho nguyên tác. Tàn Chỉ của nghệ sĩ Lê Giang có thể xem như một tác phẩm nghệ thuật phái sinh, tham chiếu hình hài của đền đài Việt, để kể câu chuyện về sự thay đổi của thời gian.

Cận cảnh chi tiết tác phẩm Tàn Chỉ của nghệ sĩ thị giác Lê Giang. Nguồn ảnh: Nghệ sĩ Lê Giang.

Vậy thế nào là tác phẩm thuộc trường phái nghệ thuật phái sinh?

Tại Việt Nam, Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 ở khoản 8, điều 4 nêu rõ:

“Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn. Tác phẩm phái sinh là tác phẩm do cá nhân/những cá nhân trực tiếp sáng tạo, được hình thành trên cơ sở một/những tác phẩm đã tồn tại (tác phẩm gốc) trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học, được thể hiện bằng bất kỳ phương thức hay hình thức nào khác biệt với phương thức hay hình thức thể hiện của tác phẩm gốc, thông qua một dạng vật chất nhất định”.

Nói về nghệ thuật phái sinh, có thể nói tác phẩm phái sinh như sáng tạo lồng vào sáng tạo, nó được tạo ra dựa trên nền tảng triết lý thiết kế của một hoặc nhiều tác phẩm đã có trước đó. Nhiều tài liệu nghệ thuật trên thế giới cũng đã đưa ra nhận định về phái sinh. Theo đó, dòng chảy sáng tạo đôi khi là sự trở lại của những xu hướng hay trào lưu đã qua, nhưng trong một diện mạo, hình thức, quan điểm mới. Và vì vậy, phái sinh trở thành một thực hành nghệ thuật nhằm mở rộng và phát triển những giá trị đã được hình thành.

Các hình thái chính của thực hành nghệ thuật phái sinh bao gồm những gì?

(1) Tác phẩm được dịch sang ngôn ngữ khác: tác phẩm được dịch qua ngôn ngữ khác một cách sát nghĩa, không diễn đạt sai nội dung dựa trên nội dung của tác phẩm gốc.

(2) Tác phẩm phóng tác: là tác phẩm phỏng theo tác phẩm gốc, nhưng có sự sáng tạo về nội dung, tư tưởng… Tác phẩm phóng tác thường mang sắc thái mới, khác biệt so với tác phẩm gốc.

(3) Tác phẩm biên soạn: là việc tổng hợp thông tin, thu thập và chọn lọc các tài liệu tham khảo để viết lại thành một tác phẩm mới có sự trích dẫn những nguồn thông tin đã tham khảo.

(4) Tác phẩm chú giải: là tác phẩm thể hiện quan điểm, lời bình của người soạn bản chú giải đó, giải thích ý nghĩa để làm rõ hơn nội dung trong tác phẩm gốc.

(5) Tác phẩm tuyển chọn: được hiểu là một tập hợp các tác phẩm được lựa chọn bởi người biên soạn.

(6) Tác phẩm cải biên: là tác phẩm được sáng tạo ra trên cơ sở tác phẩm gốc bằng cách thay đổi hình thức diễn đạt.

(7) Tác phẩm chuyển thể: có thể hiểu là tác phẩm dựa trên tác phẩm gốc nhưng không làm thay đổi nội dung của tác phẩm gốc. Hiện nay, hình thức chuyển thể phổ biến là việc chuyển thể một tác phẩm văn học, câu chuyện… thành tác phẩm điện ảnh, phim truyền hình…

Dựa trên các hình thái trên, có thể thấy thực tế rằng nghệ thuật phái sinh đã luôn tồn tại trong văn hóa đại chúng.

Đoạn Trường Tân Thanh được phóng tác từ Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, nhạc kịch Những Người Khốn Khổ được chuyển soạn từ tiểu thuyết cùng tên của Victor Hugo, hay bộ ba album Classics In The Air của Paul Mauriat chơi lại các trích đoạn cổ điển nổi tiếng theo phong cách hòa tấu hiện đại đều được xem là các hình thức phái sinh.

Ở các tác phẩm trên, công chúng thấy được câu chuyện gốc, giai điệu gốc nhưng đã được thay đổi về cách thức biểu đạt, loại hình nghệ thuật với nhiều sáng tạo và sắc thái mới.

Chiều dài lịch sử của thực hành phái sinh tại Việt Nam

Một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất ở Việt Nam có thực hành phái sinh có lẽ là ba nàng Mona Lisa của họa sĩ Mai Trung Thứ. Cả ba bức đều là bột màu trên lụa, đi kèm với khung do họa sĩ tự làm, với kích cỡ khác nhau, nhưng tỉ lệ chiều cao, chiều rộng đều tôn trọng tỉ lệ nguyên bản trong Mona Lisa (hay còn gọi là La Gioconde) của Leonardo da Vinci.

Bức tranh “Mona Lisa” đầu tiên do Mai Trung Thứ vẽ năm 1958. Bức vẽ này có kích cỡ tầm trung 34,5 x 27,6 cm, vẽ nàng Mona Lisa tóc đen mắt lá liễu, bận áo dài Le Mur đỏ thẫm và đội voan lụa màu rêu trải dài xuống thân.

Bức ‘Mona Lisa’ 1961 là phiên bản thu gọn của bức 1958, với kích thước 25 x 17,5cm. Trong phiên bản này, tấm khăn voan chuyển sang màu lam, cùng tông với những dãy núi phía sau để tạo thêm tương phản gam màu và không gian tươi tắn hơn.

phiên bản “Mona Lisa” vẽ năm 1974 có kích cỡ lớn nhất 53,5 x 37,5cm. Ở phiên bản này, gam màu chuyển sang tông lạnh, đối lập với tông vàng của làn da nhân vật. Khăn voan chuyển sang màu lục tươi, còn áo dài thì chuyển sang màu lam thẫm với họa tiết chữ thọ tối giản, cổ tròn đính cúc đỏ. Quần lanh trắng chuyển sang đen – có lẽ thiếu nữ giờ đã là thiếu phụ, trải qua những biến cố nhất định trong cuộc đời. 

Dựa theo bản gốc, cô gái ngồi trên một chiếc ghế gỗ ở ban công, với thiết kế của ghế và ban công đều có các motif họa tiết Á Đông. Khung cảnh đằng sau cũng phóng chiếu theo bản gốc, với lối thể hiện là sự kết hợp giữa cách vẽ hàn lâm sơn dầu Tây phương và thủy mặc Đông phương.

Bộ ba họa phẩm khác nhau vẽ cùng một nhân vật với những ý tứ, suy tư khác nhau. Ba tác phẩm như một cuốn phim tả về một nhân vật, từ khi còn là một cô gái trẻ cho đến khi là thiếu phụ. Đây cũng là điểm độc đáo mà “Mona Lisa” phái sinh do họa sĩ Việt vẽ mang cốt cách, tinh thần Việt.

Cận cảnh chi tiết tác phẩm Tàn Chỉ cho thấy chất liệu được sử dụng có sự thay đổi so với tư duy kiến trúc gốc, cùng những chi tiết được thiết kế để tái hiện sự bào mòn trên những cột “gỗ” của đình. Nguồn ảnh: Nghệ sĩ Lê Giang.

Về Tàn Chỉ của nghệ sĩ thị giác Lê Giang, có thể xem nó như một ví dụ thực hành phái sinh của thời đại mới.

Triển lãm Tàn Chỉ từng được giới thiệu đến công chúng hồi năm 2017, là dự án hợp tác kéo dài 6 tháng giữa Lê Giang và nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Đình Hưng, kiến ​​trúc sư dân gian Phạm Thanh Thủy và chuyên gia tư vấn môi trường Nguyễn Thùy Dương. Dự án sử dụng tư duy thiết kế của đình làng Bắc Bộ, bề mặt chất liệu khác biệt so với lịch sử để tái hiện cảm giác vôi hóa cùng những mảng phù điêu và chi tiết kiến trúc đổ vỡ xuất hiện quanh chân cột.

Nội dung tác phẩm tập trung phản ánh những biến động sông Hồng và số phận di tích tâm linh miền Bắc. Có thể nói tác phẩm đã sử dụng những tư duy thiết kế cũ dưới những chất liệu mới, hình thái mới, giá trị mới.

Ranh giới giữa nghệ thuật phái sinh và đạo nhái – sao chép

Bức tranh sơn dầu “Mona Lisa – Thiết kế về nụ cười” được Lãnh Quân vẽ năm 2004, với kích thước 125×45 cm

Ranh giới giữa nghệ thuật phái sinh và đạo nhái không nằm ở việc một tác phẩm sử dụng chất liệu nào, mà nằm ở mức độ minh bạch và giá trị mới mà nó tạo ra.

Theo Annam Gallery, tác phẩm được gọi là phái sinh chứ không phải sao chép gồm những đặc điểm như sau:

“Một là: Tác phẩm đó được hình thành (sáng tác) trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có từ trước đó, thay đổi tác phẩm gốc nhưng vẫn có dấu ấn đặc trưng. Khi người xem tiếp xúc với tác phẩm phái sinh, họ sẽ liên tưởng ngay đến tác phẩm gốc.

Hai là: Hình thức thể hiện phải khác biệt hoàn toàn hoặc khác biệt từng phần với hình thức thể hiện của tác phẩm gốc.

Thí dụ như bức Mona Lisa của Leonardo da Vinci được vẽ bằng sơn dầu trên gỗ dương, của Mai Thứ thì vẽ bằng bột màu trên lụa, Khắc Chinh và Lãnh Quân là sơn dầu trên canvas.

Ba là: Mang dấu ấn cá nhân của tác giả sáng tác ra tác phẩm phái sinh. Cụ thể ở đây là chất liệu, màu sắc, kỹ thuật đường nét, xa hơn nữa là tỷ lệ của bức tranh. Thí dụ cơ bản vui như tác phẩm gốc thì không choàng khăn, nhưng ông Mai Thứ lại cho choàng khăn voan, họa sĩ Khắc Chinh lại cho thêm nhân vật chiếc khăn mấn cùng chiếc kiềng rõ nét hơn. Hay như tác phẩm của Lãnh Quân là một cô gái hiện đại với mái tóc buông xõa với những chi tiết đặc tả siêu thực như ảnh chụp.”

Khi nguồn cảm hứng bị che giấu, không thừa nhận xuất xứ hoặc chỉ sao chép hình thức mà không đóng góp thêm góc nhìn, ngữ cảnh hay ý nghĩa mới, sự phái sinh dễ trượt sang địa hạt của đạo nhái. Tính minh bạch vì thế trở thành một yêu cầu quan trọng của nghệ thuật phái sinh. Việc công khai nguồn tham chiếu không làm giảm giá trị sáng tạo, mà ngược lại cho thấy sự tôn trọng đối với di sản cũ và giúp người xem nhận ra quá trình đối thoại giữa quá khứ và hiện tại.

Có thể nói, nghệ sĩ thị giác Lê Giang cùng sự hợp tác của các nhà nghiên cứu, kiến trúc sư và chuyên gia tư vấn môi trường đã thành công tham chiếu hình hài của kiến trúc Việt, minh bạch trong xuất xứ, đồng thời chuyển hóa chúng thành một ngôn ngữ thị giác đương đại để kể một câu chuyện về số phận của những di tích tâm linh Bắc Bộ.

NHỮNG THỰC HÀNH KHAI THÁC VĂN HÓA:

Harper’s Bazaar Việt Nam

Xem thêm